Sản xuất lúa bằng mọi giá?

21 July 2014 | Article

Ngày 27 tháng 5 tại Cần Thơ, IUCN và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã tổi chức hội thảo khởi động dự án Tiếp cận Lập kế hoạch Tổng hợp để thực hiện Kế hoạch Chiến lược của Công ước Đa dạng Sinh học (CBD) và Tăng cường Sức chống chịu của Hệ sinh thái trước Biến đổi Khí hậu. Dự án có thời gian 4 năm và do BMU tài trợ.

Nếu là 5 năm trước, việc tổ chức hội thảo như thế này có lẽ không thể được. Với ám ảnh của sự thiếu hụt lương thực trong những năm 80 của thế kỷ trước, yêu cầu tối đa hóa sản xuất lúa đã đi sâu vào tiềm thức của các nhà hoạch định chính sách. Cho dù thực tế là Việt Nam hiện nay là nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới, thì các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước vẫn luôn có mục tiêu về sản lượng gạo. Tuy nhiên theo một kết quả một nghiên cứu do Đại học Harvard tiến hành thì cách thức tiếp cận này là không hiệu quả và không công bằng. Nghịch lý là, người nông dân trồng lúa ở ĐBSCL, một trong những nhóm dân số nghèo nhất tại Việt Nam, đang phải đang phải còng mình bao cấp cho phần dân số còn lại.

Hội thảo quy tụ nhiều đại biểu vốn đã từ lâu nghi ngờ về hiệu quả của việc thâm canh quá mức từ những năm 90, bắt đầu từ một, đến hai, đến ba và thậm chí đến bốn hay năm vụ lúa một năm. Tuy nhiên, cho đến gần đây, ý kiến của họ mới được nhà nước cũng như công luận lắng nghe một cách nghiêm túc. Khởi đầu cho sự thay đổi này chính là đợt lũ tháng 11 năm 2011 ở ĐBSCL đã gây ngập úng cả thành phố Cần Thơ.

Cho đến những năm 90, hầu hết đất canh tác ở đồng bằng là lúa hai vụ, một vào mùa hè và một vào mùa thu. Lúa hai vụ chỉ cần có đê bao tương đối thấp còn được gọi là đê tháng Tám do nó cho phép nước lũ cao ở sông Mê Kông vào tháng Tám có thể tràn qua. Việc sản xuất ba vụ (hoặc hơn nữa) đòi hỏi phải xây dựng các đê cao, hay còn gọi là đê bao do nó bao chặt và cách ly đất trồng lúa khỏi nước lũ của sông Mê Kông. Các đê bao này làm giảm đột ngội diện tích vùng đồng lũ và đẩy nước lũ xuống hạ nguồn. Trong khi đó, giá gạo trên thế giới giảm nhanh chóng trong hai năm qua do sản lượng lúa tăng, lượng gạo tồn kho lớn (nhất là do chương trình trợ giá dự trữ gạo của Thái Lan), trong khi nhu cầu đã bão hòa. Người dân trồng lúa ở đồng bằng rơi vào một giai đoạn khó khăn, nhất là khi giống lúa sản xuất chủ yếu ở đồng bằng lại là lúa có chất lượng thấp. (Nhìn nhận được thực tế này, Bộ NNPTNT gần đây đã giảm diện tích đất lúa từ 4,1 xuống còn 4 triệu héc-ta).

Trong hội thảo, mọi người đền đồng ý là việc thâm canh cây lúa dẫn đến hậu quả là làm tăng chi phí trong các khía cạnh tăng nguy cơ lũ lụt tàn phá (khác biệt với “nhịp” lên xuống tự nhiên của mùa nước nổi trước kia), làm giảm chất lượng nước, gây ra các vấn đề về sức khỏe cộng đồng (do tăng cường sử dụng hóa chất nông nghiệp), giảm đa dạng sinh học, và suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến miếng ăn của 20% dân số không có đất ở ĐBSCL. Tuy nhiên, chúng ta đã khôn ngoan hơn. Theo lời một vị cựu lãnh đạo tỉnh: “Trong quá khứ, tiếp cận phát triển của chúng ta là đi bằng một chân cho đến khi có những hậu quả rõ ràng buộc chúng ta phải cố gắng và tái cân bằng tiếp cận của mình. Đã từng là một người ra quyết định, tôi biết là trong khi ta làm được những điều tốt, chúng ta cũng đã có những sai lầm. Tôi ước mình được quay lại và lúc đó chúng ta sẽ có sự tham gia tốt hơn của người dân.”

Tuy đồng ý là việc giảm thâm canh cây lúa sẽ mang lại nhiều lợi ích, các câu hỏi được đưa ra là làm thế nào để thực hiện được việc này. Nhà cửa truyền thống ở đồng bằng là nhà gác (nhà sàn) để tránh nước lụt. Nhưng nhà bệt bê tông của người bên trong đê bao sẽ bị ngập nếu đê bị phá. Một đại biểu nói: “Nếu phá toàn bộ đê bao, làm sao người dân sống được trong điều kiện lũ như chúng ta đã từng gặp trong các năm 1978 và 2000? Đây là điều rất khó khăn. Khi cổ vũ “sống chung với lũ”, ta phải chỉ ra được khả năng sẽ là thế nào hay chúng ta sẽ chẳng có gì để ăn nữa.”

Một rào cản lớn cho việc sử dụng hợp lý hơn nữa tài nguyên nước của đồng bằng là sự thiếu đồng bộ, phối kết hợp giữa 13 tỉnh thành, tỉnh nào cũng muốn tìm kiếm cơ hội phát triển mà bỏ qua các lô-gic về kinh tế cũng như sự bền vững trong dài hạn. Ví dụ, Đồng Tháp Mười đã từng đống vai trò là một vùng trũng tự nhiên hút nước trong mùa mưa và thải nước ra trong mùa khô. Khả năng này đã hầu như không còn do sự xuất hiện của mạng lưới kênh mương dày đặc được xây dựng phục vụ thâm canh cây lúa. Nếu khả năng tích trữ nước của Đồng Tháp Mười được cải thiện qua việc giảm số vụ lúa hàng năm, tỉnh Đồng Tháp có thể bị mất sản lượng lúa nhưng các tỉnh hạ nguồn sẽ được lợi do giảm nguy cơ lũ lụt. Như một đại biểu của tỉnh Bến Tre phát biểu: “Khi lũ lớn ở Đồng Tháp, chúng tôi lại mừng vì biết là sẽ đỡ bị xâm nhập mặn sẽ trong năm đó ở Bến Tre.” Đây chính là điểm mấu chốt mà Ban Chỉ đạo có thể sẽ đóng vai trò tối quan trọng trong việc điều phối lập kế hoạch và đâu tư liên vùng tại ĐBSCL để đem lại lợi ích cho tất cả cư dân đồng bằng.

Thông tin thêm về hội thảo này trên báo chí, xem:

http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=10045&cn_id=654631

http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/115453

http://tainguyenmoitruong.com.vn/tang-cuong-suc-chong-chiu-cu-he-sinh-thai-voi-bien-doi-khi-hau-o-dbscl.html

http://vov.vn/Xa-hoi/Phat-trien-kinh-te-nhung-phai-lo-bao-ve-moi-truong-sinh-thai/328856.vov

http://vovworld.vn/vi-vn/Van-hoa-Xa-hoi-Doi-song/Tang-cuong-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-vung-dong-bang-song-Cuu-Long/241818.vov

http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=63&id=149777

Ông Jake Brunner - Điếu phối viên Chương trình Mêkông - IUCN Việt Nam